Đề thi THPT Quốc gia môn Toán năm 2015, De thi thu THPT Quoc Gia nam 2015

You are here: Home »

Like VNMATH on FACEBOOK để ủng hộ VNMATH.

Việt Nam tại Olympic Toán học Quốc tế: Thông tin và các chuyện thú vị

VNMATH.COM 7 tháng 9, 2014 , 0

1. Những thông tin chung


Việt Nam bắt đầu tham gia IMO từ năm 1974. Việt Nam không tham gia các kì IMO 1977 (tại Nam Tư) và IMO 1981 (tại Mỹ). Năm 1980, do chủ nhà Mông Cổ bỏ cuộc, kỳ thi IMO không được tổ chức. Kỳ thi năm 1974, Việt Nam có 5 thí sinh tham gia, 1975 có 7 thí sinh, 1976 và 1978 mỗi năm có 8 thí sinh, 1979 và 1982 mỗi năm có 4 thí sinh, và kể từ năm 1983 đến năm 2014, mỗi năm có 6 thí sinh tham gia. Tổng cộng có qua 38 lần tham dự kỳ thi toán quốc tế, Việt Nam có 228 thí sinh tham gia, đạt tổng cộng 216 huy chương, 4 bằng danh dự và 1 giải đặc biệt.

Do quy định của Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia lớp 12 trung học phổ thông Việt Nam kì thi chọn học sinh giỏi quốc gia Việt Nam, thí sinh Việt Nam chỉ có thể tham gia nhiều nhất là hai kì Olympic Toán học Quốc tế Olympic Toán học Quốc tế (IMO) (năm lớp 11 và năm lớp 12). Cho đến nay (2014) Việt Nam đã có 15 thí sinh từng tham dự 2 kỳ Olympic liên tiếp, trong đó có 6 thí sinh từng 2 lần giành huy chương vàng liên tiếp, đó là

• Ngô Bảo Châu tại IMO 1988 (42 điểm) và 1989 (40 điểm)

• Đào Hải Long tại IMO 1994 (41 điểm) và 1995 (40 điểm)

• Ngô Đắc Tuấn tại IMO 1995 (42 điểm) và 1996 (37 điểm)

• Vũ Ngọc Minh tại IMO 2001 (33 điểm) và 2002 (35 điểm)

• Lê Hùng Việt Bảo tại IMO 2003 (42 điểm) và 2004 (36 điểm)

• Phạm Tuấn Huy tại IMO 2013 (33 điểm) và 2014 (32 điểm).

Trong số 6 thí sinh này thì trừ Vũ Ngọc Minh và Phạm Tuấn Huy là học sinh của Trường Trung học phổ thông Chuyên, Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Phổ thông Năng khiếu, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 4 người còn lại đều là học sinh của Trường Trung học phổ thông chuyên Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Có 9 thí sinh Việt Nam từng giành điểm tuyệt đối:

• Lê Bá Khánh Trình của Quốc học Huế, Huế

• Lê Tự Quốc Thắng (IMO 1982) của Trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, TP HCM

• Đinh Tiến Cường (IMO 1989) và Nguyễn Trọng Cảnh (IMO 2003) của Trường Trung học phổ thông Chuyên, Đại học Sư phạm Hà Nội

• Đàm Thanh Sơn (IMO 1984), Ngô Bảo Châu (IMO 1988), Ngô Đắc Tuấn (IMO 1995), Đỗ Quốc Anh (IMO 1997) và Lê Hùng Việt Bảo (IMO 2003) của Trung học phổ thông chuyên KHTN ĐHQG HN.

Trong đó, trừ trường hợp của Lê Bá Khánh Trình đạt điểm tuyệt đối là 40 do cách tính điểm đặc biệt năm ông tham dự, các thí sinh còn lại đều đạt điểm 42. Năm 2003 là năm duy nhất Việt Nam có 2 thí sinh đạt điểm tuyệt đối. Đặc biệt hơn, năm đó cả thế giới chỉ có 3 thí sinh đạt điểm tuyệt đối.

Có 1 thí sinh Việt Nam từng giành giải thưởng đặc biệt là Lê Bá Khánh Trình của Quốc học Huế.

Tính đến năm 2014, sau 38 lần tham dự IMO, nếu tính về thứ hạng, đoàn Việt Nam đạt thành tích tốt nhất tại IMO 1999 và 2007 (đều đứng thứ 3 toàn đoàn với 3 huy chương vàng, 3 huy chương bạc). Thành tích cao nhất xét trên số huy chương là IMO 2004 với 4 huy chương vàng và 2 huy chương bạc. Các năm 1976, 1990 và 2011 được coi là những năm có thành tính thấp nhất trong lịch sử 38 lần tham dự IMO của Việt Nam. Do số lượng các đoàn tham dự mỗi năm khác nhau nên để tính thứ hạng trung bình, ta phải dùng thứ hạng quy đổi. Nếu tính theo cách này thì do thứ hạng quy đổi của Việt Nam tại các kỳ IMO đầu tiên khá cao nên thứ hạng trung bình của Việt Nam qua cả 38 lần tham dự (nếu xét có 100 đội tham gia) là 20. Nếu bỏ đi 5 kỳ IMO đầu tiên thì thứ hạng này lên đến 13 và nếu chỉ tính 20 kỳ thi gần đây nhất, thứ hạng trung bình quy đổi của Việt Nam là 10.

Qua các lần tham dự IMO, đã có 3 bài toán do Việt Nam đề nghị được chọn làm một trong các bài toán thi IMO, đó là năm 1977 (đề toán của GS Phan Đức Chính), năm 1982 (đề toán của GS Văn Như Cương) và năm 1987 (đề toán của TS Nguyễn Minh Đức, huy chương bạc toán quốc tế 1975). Những năm gần đây, vì nhiều lý do, Việt Nam không gửi đề đề nghị.

Việt Nam đăng cai tổ chức IMO lần thứ 48 vào năm 2007 tại Hà Nội. Kỳ IMO này có 93 nước và vùng lãnh thổ tham gia, đạt kỷ lục về số đoàn tham gia tính đến thời điểm đó (kỷ lục hiện nay là 104 đoàn, xác lập tại IMO lần thứ 50 tại Bremen, Đức năm 2009). Kỳ thi IMO 2007 được bạn bè quốc tế đánh giá là được tổ chức tốt cả về chuyên môn, cơ sở vật chất lẫn sự tiếp đón nồng hậu.

2. Những sự kiện thú vị xung quanh các thí sinh IMO của Việt Nam

Huy chương vàng IMO đầu tiên của Việt Nam thuộc về Hoàng Lê Minh, học sinh lớp 10 khối chuyên toán A0 của trường Đại học Tổng hợp. Hai huy chương vàng tiếp theo của Việt Nam là Lê Bá Khánh Trình, trường Quốc học Huế và Lê Tự Quốc Thắng, trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, Tp Hồ Chí Minh. Điều thú vị là cả ba thí sinh này đều là người gốc Huế.

Thí sinh đầu tiên đạt điểm tối đa và cũng là thí sinh duy nhất của Việt Nam tính đến nay đạt giải đặc biệt về lời giải đẹp là Lê Bá Khánh Trình. Anh đạt điểm tối đa 40/40 tại IMO 1979 tại Luân-Đôn và được trao giải đặc biệt về lời giải bài toán hình học ngắn hơn đáp án và chỉ bằng kiến thức lớp 9.

Trần Trọng Hùng và Phan Phương Đạt là hai thí sinh đầu tiên của Việt Nam tham dự hai kỳ IMO liên tiếp (cùng vào 2 năm 1987 và 1988). Trần Trọng Hùng đạt 2 huy chương bạc còn Phan Phương Đạt đạt 1 bạc, 1 đồng.

Phan Vũ Diễm Hằng là nữ thí sinh đầu tiên của Việt Nam. Chị tham dự IMO 1975 và đạt huy chương đồng. Tính đến IMO 2014, Việt Nam có 10 nữ thí sinh đã từng tham dự IMO, dành được tổng cộng 10 huy chương, trong đó có 5 huy chương bạc, 5 huy chương đồng. Nguyễn Thị Thiều Hoa là nữ thí sinh đầu tiên của Việt Nam đạt huy chương bạc IMO. Chị đạt thành tích này tại IMO 1976. Đến nay chúng ta vẫn chờ nữ thí sinh đầu tiên của Việt Nam đạt huy chương vàng IMO.

Nguyễn Tiến Dũng là thí sinh Việt Nam nhỏ tuổi nhất tham dự IMO. Anh tham dự IMO 1985 khi chưa tròn 15 tuổi và đạt huy chương vàng với số điểm 35/42.

Hà Huy Minh (HCĐ IMO 1989) và Hà Huy Tài (HCB IMO 1991) là cặp anh em (chú bác) duy nhất từng tham dự IMO. Trong gia đình này còn có người chú Hà Huy Bảng cũng từng tham dự IMO 1976 (nhưng không đạt giải). Theo GS Hà Huy Khoái, chính vì cần dạy cho các con và các cháu nên GS đã để tâm hơn đến toán sơ cấp để sau này trở thành một chuyên gia có tiếng trong đào tạo, bồi dưỡng HSG, từng làm trưởng Ban chọn đề thi và trưởng Ban giám khảo IMO 2007, tham gia IMO Advisory Board và nhiều lần dẫn đoàn Việt Nam đi thi toán quốc tế.

Có một trường hợp họ hàng ít được biết đến hơn là trường hợp của Trần Nam Dũng (cậu), huy chương bạc IMO 1983 và Lê Nam Trường (cháu), huy chương bạc IMO 2006. Điều thú vị là chiếc huy chương bạc của Trần Nam Dũng là huy chương IMO đầu tiên của Quảng Nam – Đà Nẵng, còn huy chương bạc của Lê Nam Trường là huy chương IMO đầu tiên của Hà Tĩnh (là quê nội của Lê Nam Trường và quê ngoại của Trần Nam Dũng).

Có hai thí sinh Việt Nam dự IMO không học trong hệ thống các trường chuyên là Chế Quang Quyền, Bằng Danh dự IMO 1985, học sinh trường THPT Long Thành, Đồng Nai và Võ Văn Huy, huy chương đồng IMO 2011, học sinh trường THPT Lê Hồng Phong, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

Nguyễn Hùng Sơn là cái tên duy nhất xuất hiện trong danh sách đội tuyển Việt Nam dự IMO hai lần, nhưng không phải là hai lần liên tiếp mà cách nhau …đúng 10 năm. Nguyễn Hùng Sơn “anh” đạt huy chương đồng IMO 1976 còn Nguyễn Hùng Sơn “em” đạt huy chương bạc IMO 1986. Hiện nay TS Nguyễn Hùng Sơn “anh” làm việc tại Viện Vật lý, Hà Nội, còn GS TSKH Nguyễn Hùng Sơn “em” làm việc tại Viện Toán học, Khoa Toán-Cơ-Tin ĐH TH Vac-sa-va.

3. Các trung tâm đào tạo huy chương IMO ở Việt Nam

Xét trên cơ sở các trường đã đào tạo ra các huy chương IMO của Việt Nam thì nhà vô địch tuyệt đối là khối chuyên toán A0 thuộc trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau này là Trung học phổ thông chuyên KHTN ĐHQG HN. Riêng đơn vị này đã đóng góp 71 lượt thí sinh tham dự IMO, chiếm gần 1/3. Á quân thuộc về khối chuyên toán ĐHSP, nay là THPT chuyên ĐHSP HN với 40 suất. Vị trí thứ ba thuộc về hai đơn vị thuộc khu 4 là chuyên toán ĐH Vinh và chuyên Lam Sơn Thanh Hóa với mỗi trường 14 suất tham dự. Trong các đơn vị và tỉnh thành nổi bật khác có thể kể đến Hà Nội (gồm hai trường Chu Văn An và Amsterdam), Đà Nẵng (gồm hai trường THPT Phan Chu Trinh và THPT chuyên Lê Quý Đôn), Hải Phòng (gồm hai trường Trần Phú và Thái Phiên), trường PTNK thuộc ĐHQG Tp HCM.

Theo dòng thời gian thì ở ba kỳ IMO đầu tiên mà Việt Nam tham gia (1974, 1975, 1976), các suất dự IMO hoàn toàn thuộc về 3 trung tâm đào tạo chuyên toán tại Hà Nội là khối chuyên toán trường ĐHTH, khối chuyên toán trường ĐHSP và trường Chu Văn An.

Đến năm 1978, xuất hiện 3 thí sinh đến từ các đơn vị ngoài Hà Nội, đó là Lê Như Dương đến từ trường Thái Phiên, Hải Phòng, Nguyễn Tuấn Hùng chuyên toán ĐH Vinh và Hồ Đình Duẩn đến từ trường Quốc học Huế. Cả ba anh đều đạt huy chương đồng tại kỳ thi năm này.

Hồ Đình Duẩn là thí sinh miền Nam đầu tiên được tham dự IMO. Anh cũng mở đầu cho loạt thành công của chuyên toán quốc học Huế với Hồ Đình Duẩn (HCĐ IMO 1978), Lê Bá Khánh Trình (HCV IMO 1979), Ngô Phú Thanh (HCB IMO 1982), Nguyễn Văn Lượng (HCB IMO 1983), Hoàng Ngọc Chiến (HCĐ IMO 1983). Những thành công này gắn liền với 3 thầy giáo nổi tiếng là Trần Văn Khải, Trần Thanh Thiên và Lê Văn Quang. Đáng tiếc là sau năm 1983 thì dòng thành công này đã dừng lại. Ít lâu sau, thầy Trần Văn Khải ra Hà Nội và thầy Trần Thanh Thiên vào Đồng Nai.

Dòng thành công của Quốc học Huế dừng lại thì lại đến dòng thành công của một tên tuổi mới, rất trẻ, đó là khối chuyên của Bộ đặt tại trường THPT chuyên Phan Chu Trinh Đà Nẵng. Đó là Trần Nam Dũng (HCB IMO 1983), Nguyễn Văn Hưng (HCB IMO 1984), Võ Thu Tùng (HCĐ IMO 1984), Lâm Tùng Giang (HCB IMO 1985) và Nguyễn Hùng Sơn (HCB IMO 1986). Thành tích này gắn liền với các thầy giáo Lê Hoành Phò, Hồ Xuyên, Ngô Thế Phiệt. Cũng thật đáng tiếc là sau năm 1986, khi trường THPT chuyên Lê Quý Đôn được thành lập trên cơ sở các lớp chuyên đầu tiên này được thành lập thì dòng thành tích IMO của Đà Nẵng tạm dừng.

Đến năm 1984 thì chuyên Lam Sơn Thanh Hóa đã có thành tích IMO đầu tiên với chiếc huy chương đồng của Nguyễn Thúc Anh. Chuyên Lam Sơn Thanh Hóa cùng với chuyên ĐH Vinh không có những chuỗi thành tích ngắn ấn tượng như Huế và Đà Nẵng, nhưng như một vận động viên đường trường, họ vẫn luôn giữ được nhịp qua các năm. Các thành tích IMO của Lam Sơn Thanh Hóa gắn liền với thầy Phạm Ngọc Quang.

Năm 1985 là năm duy nhất mà số các thí sinh đến từ miền Nam chiếm quá bán trong thành phần đội tuyển IMO. Năm này trường Nguyễn Văn Trỗi Nha Trang, Khánh Hòa (sau thành trường chuyên Lê Quý Đôn Khánh Hòa) có hai đại diện trong đội tuyển là Huỳnh Văn Thành (HCB) và Đỗ Duy Khanh (HCĐ). Thành tích này gắn liền với hai cái tên Huỳnh Xưng và Lê Sáng, những người sau này còn đóng góp cho Khánh Hòa một huy chương bạc toán quốc tế của Nguyễn Tiến Việt (IMO 2003).

Những năm tiếp theo, trường THPT chuyên Amsterdam bắt đầu lên tiếng. Khởi đầu từ hai chiếc huy chương đồng IMO của Phan Phương Đạt và Phạm Triều Dương ở IMO 1987, đến hai chiếc huy chương bạc của Phan Phương Đạt và Hồ Thanh Tùng ở IMO 1988 rồi huy chương đồng của Phan Thị Hà Dương ở IMO 1990.

Trong cả giai đoạn này, hai trung tâm chính là THPT chuyên ĐH KHTN, ĐHQG HN và THPT chuyên ĐHSP HN, dĩ nhiên, vẫn đều đặn góp mặt. Tuy nhiên giai đoạn 10 năm 1991 đến 2000 là giai đoạn bùng nổ nhất của khối chuyên toán A0 (tên gọi của THPT chuyên ĐH KHTN ĐHQG HN lúc bấy giờ). Kỷ lục được xác lập vào năm 1994 khi khối chuyên toán A0 ĐHTH HN chiếm 5/6 xuất dự thi IMO, xuất còn lại thuộc về ĐHSP HN. Các năm 1992, 1995, 1996, 2000 khối này chiếm 4/6 xuất. Thật sự là một giai đoạn nổi bật nhất. Đây cũng là thời kỳ của những tên tuổi như Nguyễn Chu Gia Vượng, Đào Hải Long, Ngô Đắc Tuấn, Đỗ Quốc Anh.

Trong giai đoạn này, các tỉnh thành phía Nam gần như vắng bóng, chỉ có đến năm 1999, Trần Văn Nghĩa, học trò của thầy giáo Hoàng Hoa Trại (nay đã mất) ở trường chuyên Lê Khiết mới giúp miền Nam lên tiếng trở lại.

Bước sang thế kỷ 21, địa lý của các huy chương IMO bắt đầu trải rộng hơn với sự lên tiếng của các trung tâm mới nổi: Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hải Dương. Một số tỉnh cũng đã có những chiếc huy chương toán quốc tế đầu tiên: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Bắc Giang, Bắc Ninh. Giai đoạn này đánh dấu sự trở lại ngoạn mục của một tên tuổi mới mà cũ: THPT chuyên Lê Quý Đôn, Đà Nẵng. Từ năm 2005 đến năm 2014, Đà Nẵng đã có 5 chiếc huy chương toán quốc tế (3 bạc, 2 đồng), bằng với thành tích của lớp đàn anh giai đoạn 1983-1986.

Đặc biệt giai đoạn này đánh dấu sự góp mặt của một tên tuổi mới: Trường PTNK thuộc ĐHQG Tp HCM. Bắt đầu dự thi HSG vào năm 1995, nhưng phải đến năm 2003, PTNK mới có thành tích IMO đầu tiên với chiếc huy chương bạc của Nguyễn Đăng Khoa. Những năm sau đó, PTNK vẫn dè dặt năm có, năm không và tiếp tục đạt thêm 4 chiếc huy chương IMO nữa vào các năm 2005 (Trần Chiêu Minh, HCB), 2008 (Đặng Trần Tiến Vinh, HCĐ), 2009 (Phạm Hy Hiếu, HCB), 2012 (Trần Hoàng Bảo Linh, HCB). Và đến 2 năm 2013, 2014 thì PTNK đã tỏa sáng với 3 chiếc huy chương vàng (Cấn Trần Thành Trung, Phạm Tuấn Huy – 2 năm liên tiếp) và 1 chiếc huy chương bạc (Hồ Quốc Đăng Hưng).

Như vậy, khởi đầu từ các lớp chuyên thuộc các trường Đại học Tổng hợp HN, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học sư phạm Vinh, đến nay hệ thống trường chuyên đã hình thành rộng khắp cả nước và ở các trường Đại học lớn. Và cũng từ đó, bản đồ các đơn vị có đóng góp cho thành tích thi toán quốc tế cũng được trải đều rộng khắp Việt Nam./.

Trần Nam Dũng – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên ((ĐHQG TP HCM))
Nguồn: VIASM

Về VNMATH.COM

VNMATH hoạt động từ năm 2008 với slogan Trao đổi để học hỏi, Sẻ chia để vươn lên. Hiện nay VNMATH.COM là trang web Toán học có lượt truy cập lớn nhất Việt Nam.

Chia sẻ bài viết này


Bài viết liên quan

Không có nhận xét nào :

Để lại Nhận xét