Đề thi THPT Quốc gia môn Toán năm 2015, De thi thu THPT Quoc Gia nam 2015

You are here: Home »

Like VNMATH on FACEBOOK để ủng hộ VNMATH.

Nguồn gốc các kí hiệu Toán học

Việc dùng các chữ để kí hiệu các đoạn thẳng được nhà hình học Ơ-clít dùng từ thế kỉ III trước Công nguyên. Cùng thời kì này, nhà toán học Đi-ô-phăng cũng dùng chữ cái để kí hiệu ẩn số; ông cũng đặt ra các dấu riêng để ghi phép trừ và ghi sự bằng nhau.

Các nhà toán học Ấn Độ cũng dùng các chữ để kí hiệu ẩn số từ thế kỉ VII, song cách dùng cũng chưa thống nhất. Cuối thế kỉ XV, một người Ý tên là Pa-zô-li (L.Pasoli) lần đầu tiên đã viết dấu cộng và trừ là và (lấy từ các chữ La tinh: cộng plus và trừ minus). Các nhà toán học Đức, trong đó có Krít-xtốp Ru-đôn-phơ (Christophe Rudolphe, 1524) đã đưa ra các dấu + và -.

Các nhà toán học của thế kỉ XVI dùng các cách ghi hỗn hợp, vừa dùng từ ngữ, vừa dùng kí hiệu toán học. Ví dụ, ta xét phương trình x3 + 5x = 12 thì nhà toán học Ý là Ca-đa-nô (J.Cardano, 1545) ghi như sau:

I. Cubus 5. posiotinonibus aequantur 12

(cubus : lập phương; positie; ẩn số; aequantur: bằng)

Nhà toán học Ý là Bôm-be-li (R. Bombelli, 1572) lại viết thành:

equale à 12

(Số 1 là ẩn số: equala à: bằng).


Nhà toán hoc Pháp Phrăng-xoa Vi-ét viết:

(I: ẩn số; C – cubus: lập phương; N – numerus: số)


Dần dần các từ ngữ biến mất để cách ghi được gọn hơn. Năm 1631, nhà toán học Anh là To-mát Ha-ri-ốt (Thomas Harriot) đã viết phương trình đó như sau:


a a a + 5a = 12

Đầu thế kỉ XVII đã xuất hiện các dấu ngoặc để cho biết thứ tự thực hiện phép tính: dấu ngoặc vuông do nhà toán học Bôm-be-li; dấu ngoặc vòng do nhà toán học Ý là Tác-ta-li (N. Tartalia); dấu ngoặc nhọn do Vi-ét.

Chính Vi-ét cũng là người tạo ra các công thức Đại số, đồng thời ông cũng dùng các nguyên âm La tinh để kí hiệu các hằng số, dùng các phụ âm để kí hiệu ẩn số.

Năm 1637, Rơ-nê Đề-các (Rene Descartes) đã dùng các chữ cái đầu bảng chữ La tinh: a, b, c để ghi các đại lượng đã biết, còn các chữ cái cuối bảng chữ x, y, z để ghi các đại lượng chưa biết và cách dùng này nhanh chóng được mọi người phổ biến rộng rãi.

Dấu căn thức phải trải qua chặng đường tiến hóa kéo dài hơn 500 năm. Kí hiệu ngày nay chúng ta dùng gồm hai phần: dấu V là sự mô phỏng chữ r (chữ đầu của từ radix: căn) và dấu gạch ngang ở trên để thay cho dấu ngoặc đóng hai đầu của biểu thức trong căn.


Riêng kí hiệu : tỉ số giữa độ dài đường tròn và đường kính, thoạt tiên được nhà toán học Anh là Giôn-xơn (U. Johnson) dùng năm 1706, sau đó, từ 1706, được Ơ-loe dùng và được lấy làm quy ước chung.

Dưới đây là các mốc thời gian ghi lại việc nêu ra các dấu và kí hiệu toán học quen thuộc nhất.


Về VNMATH.COM

VNMATH hoạt động từ năm 2008 với slogan Trao đổi để học hỏi, Sẻ chia để vươn lên. Hiện nay VNMATH.COM là trang web Toán học có lượt truy cập lớn nhất Việt Nam.

Chia sẻ bài viết này


Bài viết liên quan

Không có nhận xét nào :

Để lại Nhận xét