Câu chuyện nổi bật
vnmath.com Tortor magna dolor, aliquam tellus iaculis Suscipit lorem tristique The First Featured Article
Natoque non, Quisque in porttitor!

Tortor magna dolor, aliquam tellus iaculis

Suscipit lorem tristique

The First Featured Article

8.2.10

Nguyễn Minh Hà - Bài tập nâng cao và một số chuyên đề Hình học 10

2/08/2010 09:30:00 CH

Bài tập nâng cao va một số chuyên đề Hình học 10 của Nguyễn Minh Hà.
Sách gồm 4 chương:

Chương 1: Vector
Chương 2: Tích vô hướng của hai vector và ứng dụng
Chương 3: Phương pháp tọa độ trong mặt phẳng
Chương 4: Các chuyên đề

Giá: 41.000 VND

Có thể download sách này theo liên kết sau.
Tải về.

Read the full story

Học tập theo phương pháp P.O.W.E.R cho sinh viên năm 1

2/08/2010 07:19:00 CH

P.O.W.E.R ở đây vừa có nghĩa là sức mạnh, năng lực, vừa là tên gọi của một phương pháp học tập ở bậc đại học do Giáo sư Robert Feldman (ĐH Massachusetts) đề xướng nhằm hướng dẫn sinh viên, đặc biệt là sinh viên năm 1, cách học tập có hiệu quả nhất. Phương pháp POWER bao gồm 5 yếu tố cơ bản là chữ viết tắt ghép thành POWER: Prepare , Organize, Work, Evaluate, Rethink


1. Prepare (chuẩn bị)


Quá trình học tập ở đại học không phải chỉ bắt đầu ở giảng đường khi sinh viên nghe thầy giáo giảng bài hoặc trao đổi, tranh luận với các bạn đồng học. Quá trình này chỉ thật sự bắt đầu khi sinh viên chuẩn bị một cách tích cực các điều kiện cần thiết để tiếp cận môn học như: đọc trước giáo trình, tìm tài liệu có liên quan.
Sự chuẩn bị tư liệu này càng trở nên hiệu quả hơn khi đi liền với nó là một sự chuẩn bị về mặt tâm thế để có thể tiếp cận kiến thức một cách chủ động và sáng tạo. Với sự chuẩn bị tâm thế này, SV có thể chủ động tự đặt trước cho mình một số câu hỏi liên quan đến nội dung sẽ được đặt trên lớp, thậm chí có thể tự tạo cho mình một cái “khung tri thức” để trên cơ sở đó có thể tiếp nhận bài học một cách có hệ thống.
Với cách chuẩn bị tích cực này, tri thức mà sinh viên có được không phải là một tri thức được truyền đạt một chiều từ phía người dạy mà còn do chính sinh viên tự tạo ra bằng cách chuẩn bị các điều kiện thực thể và tâm thể thuận lợi cho sự tiếp nhận tri thức.
Nói “học là quá trình hợp tác giữa người dạy và người học” có nghĩa là như vậy.

2. Organize (tổ chức)


Sự chuẩn bị nói trên sẽ được nâng cao hơn nữa khi sinh viên bước vào giai đoạn thứ hai, giai đoạn người sinh viên biết tự tổ chức, sắp xếp quá trình học tập của mình một cách có mục đích và hệ thống.

3. Work (làm việc)

Một trong những sai lầm của việc học tập cũ là tách rời việc học tập ra khỏi làm việc. Trong khi làm việc chính là một quá trình học tập có hiệu quả nhất.
Trong giai đoạn này sinh viên phải biết cách làm việc một cách có ý thức và có phương pháp ở trong lớp và trong phòng thí nghiệm, thực hành.
Các hình thức làm việc trong môi trường đại học rất đa dạng, phong phú: Lắng ngheghi chép bài giảng, thuyết trình hoặcthảo luận, truy cập thông tin, xử lí các dữ liệu, bài tập, thực tập các thí nghiệm... tất cả đều đòi hỏi phải làm việc thật nghiêm túc, có hiệu quả.

4. Evaluate (đánh giá)


Ngoài hệ thống đánh giá của nhà trường, sinh viên còn phải biết tự đánh giá chính bản thân mình cũng như sản phẩm do mình tạo ra trong quá trình học tập.
Chỉ có qua đánh giá một cách trung thực, sinh viên mới biết mình đang đứng ở vị trí, thứ bậc nào và cần phải làm thế nào để có thể cải thiện vị trí, thứ bậc đó. Tự đánh giá cũng là một hình thức phản tỉnh để qua đó nâng cao trình độ và ý thức học tập.

5. Rethink (suy nghĩ lại
)

Khả năng suy nghĩ lại này giúp sinh viên luôn biết cách cải thiện điều kiện, phương pháp và kết quả học tập của mình. Về bản chất, tư duy đại học không phải là một thứ tư duy đơn tuyển, một chiều mà đó chính là hình thức tư duy đa tuyển, phức hợp đòi hỏi người học, người dạy, người nghiên cứu phải có tính sáng tạo cao, luôn biết cách lật ngược vấn đề theo một cách khác, soi sáng vấn đề từ những khía cạnh chưa ai đề cập đến.

Khả năng suy nghĩ lại này cũng gắn liền với khả năng làm lại (redo) và tái tạo quá trình học tập trên can bản nhận thức mới đối với vấn đề và kết quả đã đặt ra.

Cuối cùng, chữ R của giai đoạn thứ năm này cũng có nghĩa là Recreate (giải lao, giải trí, tiêu khiển), một hoạt động cũng quan trọng không kém so với các hoạt động học tập chính khóa.

Ở đây cần nhớ rằng: Ai không biết cách nghỉ ngơi, giải trí, tiêu khiển thì người đó cũng không biết cách học tập hoặc học tập không có kết quả cao.

Read the full story

Bài phỏng vấn Giáo sư Ngô Bảo Châu trên báo Thanh Niên số Tết

2/08/2010 05:01:00 CH

I. Về Bổ đề cơ bản:

1. Chào Giáo sư Ngô Bảo Châu, sự kiện công trình chứng minh Bổ đề cơ bản của anh được Tạp chí Time bình chọn là 1 trong 10 khám phá khoa học của năm 2009 đã mang tới niềm vui, niềm tự hào khôn tả đối với người Việt Nam. Tuy nhiên, việc hiểu những gì anh đã làm và được ghi nhận vẫn là thách thức lớn đối với những người không thuộc giới hàn lâm. Một cách đơn giản, anh có thể cho biết đôi nét về công trình?

Robert Langlands phát biểu một hệ thống các giả thuyết ở trung tâm của toán học hiện đại. Giả thuyết tức là những phát biểu mà ông tin là đúng, và nhiều người tin là đúng, nhưng chưa chứng minh được. Các giả thuyết Langlands đã là động lực cho sự phát triển của toán học lý thuyết trong vòng bốn chục năm trở lại đây. Rất nhiều bài toán tưởng như là những viên gạch riêng lẻ, nay được các giả thuyết của Langlands sắp xếp lại thành một công trình kiến trúc vĩ đại. Cá nhân tôi xếp ngang hàng các giả thuyết của Langlands với các hình học phẳng của Ơ-clit hay phát minh ra nhóm Galois trong việc giả các phương trình đại số.

Bổ đề cơ bản chỉ là một bổ đề vì bản thân nó chỉ là một bài toán có tính chất kỹ thuật. Nhưng nó cũng không hẳn là một bổ đề vì ông Langlands chỉ chứng minh nó trong một trường hợp đặc biệt còn trường hợp tổng quát thì được nêu như một giả thuyết. Còn cơ bản là vì cả một góc lớn của cái công trình kiến trúc kể trên sẽ sụp đổ nếu bổ đề cơ bản không đúng. Ngoài ra, chứng minh bổ đề cơ bản được nhiều người quan tâm vì ý tưởng của nó không gói gọn trong nội tại của chương trình Langlands mà lại có dây mơ dễ má đến một số vấn đề của vật lý lý thuyết. Đấy là cách làm toán mà có lẽ nhiều người thích, hoặc ít nhất là cá nhân tôi thích : câu hỏi hóc búa được trả lời bằng cách mở một cánh cửa sổ để tiếp nhận ánh sáng từ bên ngoài.

2. Anh bắt đầu quan tâm tới Bổ đề cơ bản từ lúc nào? Lúc khởi sự, anh có đủ niềm tin để tin rằng sẽ đi đến đích, sẽ giải được thách thức của hàng chục năm qua sớm đến vậy, bởi nhiều người từng nhận định có thể mất vài thế hệ mới giải được Bổ đề cơ bản?

Tôi có cái duyên làm quen với một cô em họ của Bổ đề cơ bản từ lúc bắt đầu làm luận án tién sĩ vào năm 1993. Ông thầy hướng dẫn tôi, ông Laumon, giao cho tôi giải một giả thuyết của Jacquet. Đây thực ra là một biến dạng của Bổ đề cơ bản. Thời điểm mà niềm tin vào khả năng của bản thân tôi được thử thách nhất vào cuối năm 1996 vì sau hơn ba năm làm việc, tôi vẫn không có một kết quả khả dĩ để có thể bảo vệ. Tuy nhiên, đây cũng là lúc tôi tìm ra con đường của mình. Ý tưởng cơ bản nhất để chứng minh bổ đề cơ bản sau này cũng chính là ý tưởng tôi đã dùng để chứng minh giả thuyết của Jacquet. Sau đó, tôi mất rất nhiều thời gian để học nhiều thứ toán học của nhân loại trước khi quay lại vật lộn với Bổ đề cơ bản. Lúc đó tôi đã cảm thấy mình đi đúng đường, được trang bị đầy đủ kiến thức, nhưng con đường hãy còn dài và vô cùng chông gai. Nhưng bấy giờ, có lẽ do đã trưởng thành hơn, niềm tin đã trở nên vững chắc hơn nhiều. Đến một lúc nào đó, bạn làm toán vì bạn thích làm toán chứ không phải để chứng tỏ một cái gì nữa.

3. Anh từng nói “khi có đủ niềm tin và sự say mê” để đi theo con đường khoa học, người ta có thể nhận được “phần thưởng sẽ là những cảm xúc, những chân lý mà bạn sẽ khó đến gần nếu chọn một con đường khác”. Cảm xúc của anh khi chứng minh xong Bổ đề cơ bản thế nào?

Từ lúc tôi chứng minh được hoàn thành cho đến lúc tôi thực sự tin tưởng vào sự vững chắc của nó cũng là một khoang thời gian khá dài, có lẽ gần một năm. Ngoài ý tưởng chủ đạo mà tôi mà tôi tin chắc, chứng minh còn có nhiều chi tiết, có nhiều bộ phận thực ra là những định lý toán học hoàn toàn mới. Để tạo điểm tựa cho một hòn đá là Bổ đề cơ bản, ta phải xây dựng cả một công trình kiến trúc, không vĩ đại như của Langlands, nhưng cũng không phải là một cái trái bếp. Ý tưởng chủ đạo bây giờ không đủ, mà cần phải kiểm tra xem từng hòn gạch có được xếp đúng chỗ không, từng vết trát có vững vàng không. Trong khoang thời gian này, một phần cảm xúc là lo lắng, xem có góc nào xây mà bị sập thì phải xây lại. Nhưng cảm xúc chính thực ra là nuối tiếc. Trước, Bổ đề cơ bản như một người bạn của riêng tôi. Nay, nó trở thành một bộ phận như các bộ phạn khác của trí tuệ nhân loại.

4. Có người dự đoán, thậm chí đoan chắc huy chương Fields năm tới sẽ được trao cho một người Việt Nam, Ngô Bảo Châu. Niềm tin này nơi anh thế nào?

Bản thân tôi suy nghĩ khá đơn giản về các giải thưởng nói chung. Nếu người ta trao cho tôi, tôi sẽ đón nhận nó như một vinh dự lớn. Nếu không, tôi cũng cho rằng mình không nên buồn quá. Đặt niềm tin vào những cái này là chuyện không nên.

5. Trước khi công trình chứng minh Bổ đề cơ bản hoàn tất và được Time bình chọn, anh đã là một nhà toán học thành công, với nhiều giải thưởng cũng như những hình thức vinh danh khác. Nhưng người Việt Nam, bên ngoài giới học thuật, biết rất ít về anh. Anh có nghĩ rằng đó là thiệt thòi của những người “lỡ” chuyên sâu vào toán học cũng như các ngành học thuật khác?

Tôi không nghĩ đây là thiệt thòi. Nói thật anh đừng giận, trả lời nhà báo mới là một hệ lụy bất đắc dĩ.

6. Toán học hiện đại dường như là một thế giới cao siêu, và vì thế cũng trở nên xa cách. Tôi đã đọc trên mạng ý kiến này: “Toán học hiện đại ngày nay đã quá sâu để những người bình thường có thể hiểu được các nhà toán học đang làm gì”. Như vậy có vẻ như các nhà toán học khá cô đơn. Anh có thấy vậy?

Ý kiến này xuất phát từ tâm lý phổ biến : ai cũng nghĩ là mình biết đủ toán học rồi. Có thiếu chỉ thiếu phương tiện, thiếu tiền. Thực ra, trong thế giới hiện đại toán học cần hơn bao giờ hết. Sự bùng nổ về lượng thông tin người ta thu lượm được kéo theo sự cần thiết sắp xếp, diễn giải các thông tin để chúng trở nên có nghĩa với đầu óc con người. Con người không có công cụ nào khác ngoài toán học để lọc ra cái ta cần từ đại dương thông tin xung quanh ta. Toán học là ngôn ngữ cho phép ta mô tả thiên nhiên. Người ta nhiều khi lầm tưởng mà than thở rằng mắt mình không tinh, tai mình không thính mà quên cái mầu chốt là ngôn ngữ của mình què quặt.

7. Hiện tại, anh đang thực hiện dự án nào, sau khi đã giải quyết Bổ đề cơ bản?

Tôi định tiếp tục nghiên cứu chương trình Langlands.

II. Về giới trẻ, khoa học và Việt Nam:

1. Anh từng nói: “Nếu có một điều tâm sự với các bạn trẻ hơn tôi ở nước ta, thì tôi chỉ xin nhắn các bạn: Khoa học không phải là con đường dễ dàng và dễ giàu”. Có lẽ nên bổ sung thêm: “không dễ nổi tiếng” nữa. Anh có nghĩ vì thế mà ít bạn trẻ dám theo con đường này?

Tôi cho là có một số lệch lạc trong quan niệm của nhiều bạn trẻ. Nếu lấy giàu và nổi tiếng làm mục đích thì có thể thất vọng hai lần. Thứ nhất là thất vọng vì không đạt được mục đích. Thứ hai là trong trường hợp đã đạt được mục đích, bạn lại thất vọng vì hóa ra đó không phải cái bạn muốn.

2. Anh có trang mạng cá nhân mang tên Thích Toán Học, đó là nơi anh trò chuyện với những người cùng đam mê? Hay anh muốn sử dụng nó như một chiếc cầu để dẫn bạn trẻ bước vào khoa học?

Trang Thích Học Toán (không phải thích toán học) chủ yếu để trò chuyện toán học. Tôi cho rằng những ý tưởng quan trọng nhất thực ra là những gì đơn giản nhất. Vì thế có thể diễn giải được ở hình thức trò chuyện như ở Thích Học Toán. Nhưng tất nhiên tôi không có ảo tưởng là bạn đọc của Thích Học Toán có thể ngộ được mọi chuyện chỉ bằng cách đọc blog của tôi. Để thu nhận được một cái gì có giá trị, bạn cũng phải trả giá, tức là phải quay lại vật lộn với sách vở. Thích Học Toán có thể dắt tay bạn đến chân núi, rồi bạn sẽ phải tự leo. Ít nhất ngọn núi gần trông không đáng sợ như ngọn núi xa. Cái mục đích đầu tiên và cuối cùng của blog Thích Học Toán là góp một chút hơi để thổi lại tinh thần hiếu học.

3. Việt Nam thường đạt được thành tích khá tốt trong các kỳ thi Olympic, nhưng không có nhiều những nhà khoa học có được những thành công ở tầm quốc tế. Có một sự bất cập nào đó trong giáo dục, đào tạo chăng? Hay do khoa học quá chông gai nên ít người dám dấn thân?

Đạt thành tích tốt trong các kỳ thi Olympic dễ hơn nhiều so với thành công trong khoa học. Vì ta chưa có nhiều thầy nghiên cứu giỏi nên ta cũng chưa có trò nghiên cứu giỏi. Từ cái không đến cái có là một bước nhảy vĩ đại. Có lẽ trước hết ta nên dò xét lại trong cơ chế, có cái gì cản trở sự phát triển của khoa học thì ta nên bỏ. Thực ra, xã hội ta chưa thực sự ngộ ra sự cần thiết của một môi trường hàn lâm toàn vẹn, nơi người ta biết đặt học tập lên trên hết. Ở ngoài môi trường này, nghiên cứu khoa học thực sự khó có thể nảy mầm.

4. Anh từng bày tỏ lo lắng trước cuộc suy thoái tinh thần hiếu học của người Việt Nam. Vậy đâu là nguyên nhân? Do người Việt trở nên lười đi, hay do nền giáo dục không kích thích được tinh thần hiếu học?

Người Việt xưa nay vẫn có truyền thống hiếu học. Nhưng thường là học để làm quan, chứ hình như không đặt trọng âm lên cái khát khao hiểu biết của con người. Với xã hội thay đổi nhanh chóng như những năm gần đây, người ta càng ngày càng đặt trọng âm lên câu hỏi học để làm gì. Vô tình khi đặt câu hỏi đó, cái mục đích gì đó đã quan trọng hơn việc học.

5. Một hiện trạng đau đầu của giáo dục Việt Nam là bệnh thành tích, tư duy phẩm hàm. Ngay cả ở cấp cao, như chuyện phong hàm giáo sư, cũng có rất nhiều bất cập. Theo giáo sư, lối thoát cho tình trạng này là gì?

Ý kiến riêng của tôi có lẽ sẽ gặp nhiều sự phản đối. Tôi cho rằng giáo sư nên trở thành một chức vụ có một đồng lương xứng đáng và có một trách nhiệm cụ thể. Ở các nước, phong giáo sư là việc của các trường, nhưng với tình trạng yếu kém chung của chúng ta, có lẽ việc phong chức vụ giáo sư vẫn phải đặt ở cấp nhà nước, tuy là chức giáo sư vẫn phải bổ về các trường. Tất nhiên việc này vô cùng khó, vì nhiều trường vẫn thích nhận cán bộ trung bình hơn là nhận người thật giỏi về làm việc. Tôi vẫn chỉ có một câu trả lời chung cho bệnh thành tích, tư duy phẩm hàm là cần thổi lại tinh thần hiếu học.

6. Làm việc ở nước ngoài, anh vẫn thường xuyên về giảng dạy và tham gia các hoạt động khoa học ở Việt Nam. Đặc biệt, anh đã đóng góp nhiều ý kiến đối với chính quyền. Anh thấy ý kiến của mình được tiếp nhận ra sao?

Cùng với các đồng nghiệp ở viên toán học và trường đại học sư phạm, tôi có tham gia tổ chức một lớp cao học quốc tế. Chúng tôi đã được lãnh đạo Bộ khoa học công nghệ và Bộ giáo dục đào tạo tiếp đón một cách trọng thị. Nhưng từ đó đến việc lớp cao học thực sự đi vào hoạt động thì quả thực có vô vàn khó khăn. Tuy kinh phí đề nghị rất khiêm tốn so với ý nghĩa của việc cụ thể này đối với tương lai của toán học việt nam, mỗi một bước đi là một bước vấp cơ chế, rồi phải tìm cách lách nếu muốn đi tiếp. Trong xã hội của chúng ta hiện nay, chuyện này là bình thường nhưng đây vẫn là chuyện vô cùng đáng tiếc. Anh có nhiệt tình, nhưng anh cũng chỉ có một quĩ thời gian hạn chế. Anh muốn sử dụng quĩ thời gian của mình một cách có ý nghĩa hơn là đối phó với các cơ chế vô lý.

7. Nhiều trí thức tinh hoa Việt Nam đã chọn ở lại một nước phát triển để làm việc. Theo anh đâu là nguyên nhân chính? Việt Nam chưa thể cung cấp điều kiện làm việc cho họ hay chính sách của Việt Nam không khuyến khích họ trở về?

Theo tôi nghĩ, một nhà khoa học chuyên nghiệp phải đặt câu hỏi làm khoa học thế nào cho giỏi trước câu hỏi làm ở đâu. Có hai việc khó mà làm ngay được, nhưng xã hội nên có ý thức. Thứ nhất, khoa học khó nảy mầm ở ngoài một môi trường hàn lâm toàn vẹn. Thứ hai, nhà khoa học cần một đồng lương xứng đáng.

8. Thử hình dung, trên bục nhận giải Fields vào năm tới, tên một người Việt Nam được xướng lên. Nếu có một thông điệp lúc nhận giải gửi về đất nước, anh sẽ gửi thông điệp gì?

Anh cho miễn tra lời câu này.

III. Riêng tư:

1. Anh có thể giới thiệu đôi nét về mình.

Tôi sinh ra ở Hà Nội vào năm 1972. Bố mẹ tôi cũng công tác trong lĩnh vực khoa học, nay đã về hưu. Tôi qua học ở Pháp từ năm 1990. Sau khi bảo vệ tiến sĩ năm 1997, tôi công tác ở Trung tâm khoa học quốc gia (CNRS) Pháp cho đến năm 2004 khi tôi nhận về làm giáo sư ở trường đại học Paris 11. Từ năm 2007, tôi qua làm việc ở Viện nghiên cứu tiên tiến (Institute for Advanced Study) ở Princeton. Hiện nay tôi và gia đình bao gồm vợ tôi và ba cô con gái đang sống ở đó. Tôi đã nhận lời về làm giáo sư cho trường đaị học Chicago từ thang chín năm 2010.

2. Trên blog của anh, tôi thấy những người quen gọi anh là hòa thượng. Hòa thượng Thích Toán Học tu trong ngôi chùa khoa học nhưng vẫn ưu tư chuyện thế sự. Hòa thượng không sợ điều đó sẽ làm lòng vướng bận hay chuốc lấy phiền muộn bất lợi cho chuyện tu sao?

Tôi nghĩ ai cũng có ưu tư riêng về chuyện thế sự. Blog Thích Học Toán là trang cá nhân, tôi có phát biểu một số ý kiến cá nhân, nhưng chủ yếu hạn chế trong phạm vi những việc có liên quan đến việc học hành. Viết blog cũng giống nuôi con mọn, khá là mất thời gian. Nhưng viết được ra những chuyện lý thú thú vị đem đến cho người viết một niềm vui không nhỏ, nhất là khi có bạn đọc chia sẻ.


Nguồn: Thích Học Toán


Read the full story

7.2.10

Bài toán Tình yêu

2/07/2010 08:34:00 CH

Ngày …tháng …năm…

Nhỏ ! Nhỏ thường cằn nhằn anh giống cây xương rồng khô khan và đầy gai, nhưng nhỏ nè, mỗi khi xương rồng nở hoa thì quí lắm đấy. Anh chẳng biết viết thơ hay làm văn để tặng nhỏ. Anh chỉ thích Toán, Anh Văn, Vi Tính…thôi. Không biết từ trước đến nay, nhỏ nhận được bao nhiêu “tác phẩm” của mấy gã trồng si theo nhỏ nhỉ ? Có lẽ anh thiếu lãng mạn thật, anh chỉ thích những thứ rõ ràng, logic và có thể chứng minh một cách chắc chắn. Viết thơ, phổ nhạc thì anh mù tịt, anh chẳng biết nói sao cho nhỏ hiểu lòng anh bây giờ. Thôi thì, để anh làm một bài toán chứng minh cho nhỏ rõ tình cảm của anh nhé!




Bài toán tình yêu

Đề bài : Anh là X, nhỏ là Y, với phép tính Yêu và Không Yêu, hãy chứng minh định lí sau : X yêu Y và Y yêu X là đúng và chỉ có thể tồn tại một cách duy nhất.

Giả thiết 1 : X yêu Y

Chứng minh: Để chứng minh là anh yêu nhỏ thì anh có vô khối bằng chứng lẫn ví dụ.
Này nhé, từ thuở mới biết nhỏ thôi, anh đã phải đợi không biết bao nhiêu ngày và mất không biết bao nhiêu đêm để nghĩ ra một lá đơn xin làm quen gửi nhỏ. Nếu anh chỉ giỡn chơi cho vui thì anh đã làm quen nhỏ ngay từ lúc đầu rồi. Nếu anh chẳng “có gì” với nhỏ thì anh đâu phải hồi hộp ngóng thư thư nhỏ trả lời đến như vậy. Nhỏ thấy chưa, chỉ bước ban đầu thôi mà làm kẻ lạnh lùng với trái tim bằng đá như anh phải nao núng không ít. Cái ngày nhỏ cười cười chấp nhận, mắt nhỏ long lanh đến lạ kì, may mà anh còn “nhớ lối đi về”, nếu không chắc gia đình phải đăng báo “Tìm người lạc”. Nhỏ thấy chưa, như vậy cũng đủ thấy tấm thịnh tình của anh dành cho nhỏ rồi . Nếu anh không yêu nhỏ, anh chẳng thể nào đứng trước trường chờ nhỏ tan học về. Thuở ấy, anh chúa ghét mấy đứa con trai đứng đực mặt ra mong ngóng, trông thật chẳng khác gì mấy thằng ngố. Anh vẫn cười thầm: “Đàn ông đàn ang thì phải khí thế lên, ai đời chỉ vì một người phụ nữ.” Nhưng ôi chao, anh hùng không qua ải mĩ nhân, bây giờ anh lại cam tâm tình nguyện làm một thằng dở hơi như thế. Dù biết chưa đến giờ, anh vẫn nôn nóng tới sớm rồi đứng đợi, chỉ sợ ra trễ, nhỏ theo lũ bạn đi mất. Mong là nhỏ sẽ không cho anh là thằng ngốc, nhỏ nhé.Có khi nhỏ giận không thèm nói chuyện với chuyện với anh, mới vài ngày thôi mà anh đã thấy thời gian sao dài dằng dặc, vào sở làm mà lòng như lửa đốt, đến nỗi mấy đồng nghiệp cứ phải thì thào: “Mày làm sao thế ?”

Biện luận:

“Tình yêu là mù quáng”. Không, anh chẳng thích làm gã thầy bói mù đoán già đoán non tình yêu của chúng mình. Mắt anh còn tốt lắm, và để thấy rõ nhỏ hơn, anh còn gắn thêm hai miếng kính dày cộm, to chảng. Anh không dám thề non hẹn biển như một kẻ khoác lác, anh cũng không muốn nói vòng vo quanh co đầy ẩn dụ ngụ ý để nhỏ rối tinh rối mù lạc vào mê hồn trận thì tội nghiệp. Anh chỉ có thể rõ ràng, ngắn gọn và súc tích y như một bài toán logic : Anh yêu nhỏ.

Giả thiết 2 : Y yêu X

Chứng minh: Đặt mình vào chỗ ngồi của người khác để suy ra người ta nghĩ gì quả thật là một điều không đơn giản. Nhưng vì nhỏ, anh sẽ cố gắng làm mọi thứ trở nên dễ hiểu nhất mà anh có thể.

Nhỏ có thể đang cong môi, lừ mắt bảo rằng, làm quen thì nhỏ cũng có cả khối người, nhỏ cũng đồng ý cả chục mạng, chứ đâu có riêng gì anh. Ừ, cho là vậy đi, thế tại sao nhỏ không trả lời ngay, mà để đến cả tuần sau, anh năn nỉ mãi mới cho gặp mặt. Định cho anh đau tim chắc ? Vậy là nhỏ cũng coi anh “đặc biệt” hơn người khác một chút rồi. Nhỏ sắp kêu: “Con gái phải làm giá chứ sao!” Ừ, cho là vậy đi, sao khi anh nắm tay nhỏ hỏi: “Chịu không?”, mặt nhỏ đỏ hồng lên, chỉ cười cười mà không nói gì? Nhỏ lại sắp bảo: “Thì con gái phải mắc cỡ chứ sao?” Ừ, cho là vậy đi, sao mấy thằng “ôn con” ở trường xếp hàng chờ đón nhỏ về, nhỏ ngúng nguẩy lắc đầu mà chỉ bẽn lẽn lên xe anh ngồi? Nhỏ chắc đang bặm môi la: “ Tại anh lớn hơn, chững chạc hơn nên đáng tin hơn.” Ừ, cứ cho là vậy đi, sao nhỏ cứ chịu khó viết thư, chép thơ, gửi nhạc cho anh làm gì nhỉ? Mà toàn thơ tình không mới…ác chứ ! Nhỏ biết anh khô queo, cứng như đá, chì như thép, vậy mà còn đưa toàn mấy thứ “ướt nhẹp”. Sao nhỏ không làm thế với mấy “ôn con” trong lớp nhỉ ? Chết thật, lần này anh không suy ra nữa đâu, để tự nhỏ nghĩ đi nhé !

Ngày 8-3, ngày Valentine, nhỏ hí hửng khoe anh nào hoa, nào quà, nào thiệp, cùng “những lá thư tình hay nhất thế giới”. Quen nhau gần một năm trời rồi, vậy mà anh vẫn tay không, tỉnh bơ ngồi uống nước mía cạnh nhỏ, chả phản ứng gì sất. Không biết ai tự dưng hờn mát thế nhỉ? Úi dào, anh đâu có dễ sập bẫy nhỏ như vậy? Cái kế “khích tướng” này xưa còn hơn ….Trái Đất. Ai bảo con trai không được làm giá? Nôn nóng quá nhỏ chạy mất tiêu thì sao ? Nhỏ định chọc cho anh ghen chết đấy à? Đừng hòng nhé. Ôi nhỏ ơi, anh là “người lớn”, chơi với nhỏ anh thành “con nít” một chút. Còn lũ “ôn con” trong trường chỉ là đám con nít tập làm người lớn. Người lớn đã từng làm trẻ con, cho nên trường hợp anh chấp nhận được, còn đám con nít mới nứt mắt hỉ mũi chưa sạch mà học đòi, thế là hỏng ! Khi nào rảnh, anh sẽ viết thêm cho nhỏ một bài chứng minh lí luận đầy đủ về lũ ranh ấy cho chúng biết thế nào là lễ độ !

Biện luận:

Những gì nhỏ dành cho anh, chậc, anh “cảm kích” lắm lắm. Từng ấy ví dụ thôi anh cũng đủ hiểu lòng của nhỏ rồi. Úi dào, nhỏ mắc cỡ không dám nói ra, thôi thì để anh nói giùm nhỏ nhé. Chà, không được, nói lớn quá người ta biết thì nhỏ đỏ mặt, vậy anh nói khe khẽ vừa đủ chúng mình nghe thôi nhỏ nhé: “…” Ui da, đừng có ngắt anh, đau lắm, tội nghiệp!

Từ (1) và (2) =>

Giả thiết 3 : X yêu Y và Y yêu X. Chúng ta yêu nhau

Chứng minh: Nếu giả thiết này thành sự thật thì … ôi chao, còn gì hạnh phúc bằng .Nhỏ còn bé lắm, nhỏ còn đi học, hồn hiên và ngây thơ. Thỉnh thoảng, nhỏ bỗng thành người nhớn, nghiêm nghị và sâu sắc khiến anh phải ngạc nhiên. Dù sao đi nữa, trong anh, nhỏ luôn là nhỏ bé bỏng và đáng yêu. Anh yêu mái tóc nhỏ nên anh đã phải đi lùng cái kẹp tặng nhỏ dù một thằng đàn ông như anh chẳng ưa gì chuyện sắm đồ con gái. Anh yêu đôi mắt tinh nghịch, lí lắc. Anh yêu cả cái nhìn mơ màng dù với cặp kính mà nhỏ ghét. Anh yêu cái mặt nhăn nhăn như… con khỉ khi nhỏ giận. Anh yêu luôn cả tính xấu của nhỏ vì tình yêu phải bao dung và độ lượng. Còn nhỏ, khi vui nhỏ tìm đến anh chia xẻ, nụ cười lúng liếng của nhỏ làm đời anh thấy tươi đẹp hơn. Lúc buồn, nhỏ cũng thỏ thẻ tâm sự rồi hỏi anh gỡ mối tơ lòng. Bên nhỏ, anh thấy mình cũng quan trọng hẳn lên, và anh cố làm tốt mọi thứ hơn để xứng với tình cảm của nhỏ. Nhiều lúc nhỏ giận lẫy bảo anh vô tình, chẳng quan tâm khi mấy ngày im bặt, chẳng hỏi thăm. Không có đâu, anh luôn nhớ nhỏ, anh chỉ bận đi làm thôi. Nhỏ thấy đó, anh phải làm tốt công việc của mình thì mới ra oai với nhỏ được chứ. Anh còn phải kiếm tiền để có dịp mua quà, dẫn nhỏ đi chơi, đi coi xi nê… Nhỏ thấy chưa, anh cũng có trách nhiệm lắm chứ, anh chả thích ăn không ngồi rồi, đi tán gái cho vui. Anh có nghĩa vụ lo lắng cho tương lai và chuyện học của nhỏ nữa, anh chả muốn vì mải vui nhỏ quên mất học bài. Nếu thế thì anh quả thật đáng trách lắm.

Biện luận:

Có thể anh yêu nhỏ nhiều hơn là nhỏ yêu anh. Thế cũng được, quan trọng là Chúng ta yêu nhau. Yêu anh, nhỏ vừa được yêu nè, vừa được chiều nè, vừa có vệ sĩ, tài xế và cả thầy giáo nữa. Thấy không, nhỏ “lời to” đấy nhé. Còn anh, chỉ cần được nhỏ yêu, vậy là quá đủ rồi.

Giả thiết 4: X không yêu Y và Y không yêu X

Chứng minh: không tìm ra

Biện luận:

Một giả thiết cực kì vô lí . Anh đã gặp qua khá nhiều bài toán hóc búa trong đời, nhưng đây là một câu đố lạ lùng nhất anh từng gặp. Mọi lần, nếu không tìm được một đáp số khả thi, anh sẽ ghi vào phần lời giải rất ngắn gọn: CTMB => Có Trời Mà Biết. Nhưng nhỏ à, giả thiết này có lẽ trời cũng không trả lời nổi, vì nó sai ngay từ giả thiết, vậy thì còn chứng minh cái quái gì nữa.Chắc nhỏ đang nhắc chừng anh, hình như thiêu thiếu cái gì phải không? Anh biết rồi, nhỏ đang bảo còn hai giả thiết nữa mà anh quên. Anh chẳng quên đâu, anh chỉ thấy chúng không cần thiết thôi. Nhưng để chiều lòng nhỏ, anh nói nhỏ nghe nhé.

Giả thiết 5: Y yêu X và X không yêu Y

Thật không căn cứ, không nguyên do, hoàn toàn vô lí ! Nếu nhỏ yêu anh thì lí nào anh lại không yêu nhỏ được cơ chứ ? Giả thiết này cũng sai lầm ngay từ đầu rồi, chẳng cần chứng minh nữa.

Giả thiết 6: X yêu Y và Y không yêu X

Nhỏ ơi, nếu quả thật có một giả thiết như vậy tồn tại, anh không đủ can đảm lẫn tâm trí để chứng minh nữa. Anh tìm mãi không ra một bằng chứng nào để nói nó là sự thật. Trời sinh ra mỗi người đàn ông và lấy cái xương sườn của họ để làm nên người phụ nữ. Nhỏ chính là cái xương sườn huyết thống ấy. Nếu nhỏ từ chối mà phụ lòng chúa trời, có lẽ anh sẽ chết vì một cái xương sườn ngoại đạo. Chắc chắn nhỏ không nỡ nhìn một kẻ yêu mình phải chết thảm thương như thế chứ? Vậy thì, chúng ta hãy dẹp luôn cái giả thiết “mắc toi” này đi, nhỏ nhé !

Kết luận: Nhỏ ơi, chứng minh nhỏ nghe vậy là đủ rồi, thôi tụi mình cứ tự kết luận với nhau đi, nghen nhỏ !

Read the full story

6.2.10

Chữ số La Mã

2/06/2010 10:04:00 CH

Chữ số La Mã gồm có 7 chữ số cơ bản (đơn nguyên): I=1; V=5; X=10; L=50; C=100;D=500; M=1000 là phát minh của người La Mã cổ đại.

Một cách giải thích khá hợp lí cho việc sử dụng các kí hiệu trên:



Chúng được kết hợp theo ba quy tắc sau để biểu diễn một số "bất kỳ":

1. Chữ số cơ bản được lặp lại 2 hoặc 3 lần biểu thị giá trị gấp đôi hoặc gấp 3 (chẳng hạn, II=2, XXX=30 , MM=2000...).

2. Phải cộng trái trừ: con số bên phải là cộng thêm ,số bên trái là trừ bớt. Ví dụ: XII=12=10+2;I V=4=5-1; MCMLXXXIV = 1984.

3. Nét gạch ngang trên chữ cái làm tăng giá trị của nó lên 1000. (Xem Menninger, K. Number Words and Number Symbols: A Cultural History of Numbers. New York: Dover, pp. 44-45 and 281, 1992. )
MMMDCCCLXXXVIII: là số dài nhất chứa tất cả các số cơ bản.

Đối với những số rất lớn thường không có dạng thống nhất, mặc dù đôi khi hai gạch trên hay một gạch dưới được sử dụng để chỉ phép nhân cho 1.000.000. Điều này có nghĩa là X gạch dưới (X) là mười triệu.

Số La Mã không có số 0. Một trong những nguyên nhân là do sự bảo thủ của giáo hội. Họ cho rằng các số La Mã là quá đủ và cấm dùng số 0.

Ngày nay, người ta vẫn thích đánh số các mục của một bài viết hay công văn bằng chữ số La Mã. Chữ số này được các nhà chế tạo đồng hồ ưa chuộng dùng để chỉ giờ như một cách trang trí.


Read the full story

Lý giải hiện tượng Hungary 'bội thu' Nobel

2/06/2010 09:03:00 CH

Chỉ vỏn vẹn 10 triệu dân nhưng đến nay Hungary có trên 15 người đoạt giải Nobel. Đây cũng là quốc gia có bình quân đầu người đoạt giải Nobel cao nhất thế giới.

Tại buổi seminar ra mắt cuốn sách “Người Hungary và các giải Nobel” vừa được tổ chức tại Liên hiệp Các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), nhiều nhà khoa học Việt Nam cho rằng, “ngôn ngữ khó, nền giáo dục tiên tiến, sự pha trộn hai nền văn minh …” là những điều đã làm nên thành công cho đất nước này.

Nước nhỏ “rinh” nhiều giải lớn

Hungary với diện tích 93.000 km2, chỉ chiếm 1% diện tích châu Âu với số dân khoảng 10 triệu người. Vậy mà chỉ sau 5 năm giải thưởng Nobel được tổ chức, người Hungary đã góp mặt.

Người Hungary ghi danh đầu tiên trên bục cao danh dự của giải Nobel là Lénárd Fülöp trong lĩnh vực Vật lý (năm 1905). Kể từ đó đến năm 2004, nước này tiếp tục “rinh” thêm 14 giải Nobel.

Chưa kể, giải thưởng cao nhất về toán học Fields cũng ghi nhận 8 gương mặt Hungary trong lịch sử trao giải hằng năm của mình. Bên cạnh đó, có rất nhiều nhà khoa học Hungary đoạt giải thưởng do Mỹ và Hoàng gia Anh trao tặng.

Pecs là trường đại học đầu tiên, thành lập năm 1367, cũng là đại học lớn nhất của Hungary hiện nay.

Hiện, Chủ tịch Hội Toán học thế giới, GS.TS Lovász László cũng là một người Hungary; Giải thưởng George Pólya Prize, giải thưởng lớn dành cho các nhà nghiên cứu toán tổ hợp cũng mang tên một nhà toán học, nhà sư phạm lỗi lạc người đất nước này: Pólya György.

Theo dõi lịch sử giải thưởng Nobel sẽ nhận thấy, cứ khoảng 10 năm, giải thưởng Nobel lại thuộc về một người Hungary. Riêng năm 1994 và 2004, mỗi năm có hai người Hungary được nhận vinh dự cao quý này.

Thành công nhờ triết lý giáo dục

Lý giải vì sao một đất nước đứng về phe thua trận trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai rồi sau đó bị chia năm, xẻ bảy có được những kỳ tích về khoa học như thế, tiến sĩ Giáp Văn Chung (người chuyển ngữ cuốn sách Những người Hungary đoạt giải Nobel ra tiếng Việt) cho rằng: “Ngôn ngữ, lịch sử khác thường và chính sách giáo dục đặc biệt chính là nền tảng tạo nên kỳ tích của người Hungary”.

Theo tiến sĩ Chung, tính logic của ngôn ngữ có thể tác động ngược lại với tư duy của con người. Và ngôn ngữ của Hungary vào loại khó nhất thế giới. Ngôn ngữ chính thức tại Hungary là tiếng Hungary, hay còn gọi là tiếng Magyar - một ngôn ngữ thuộc nhóm Finno-Ugric có liên hệ gần với tiếng Phần Lan và tiếng Estonia.

Tiếng Hungary là ngôn ngữ không thuộc hệ ngôn ngữ Ấn - Âu. “Đây là thứ tiếng mà khi anh nói thì cùng lúc cả hai bán cầu não phải hoạt động”, tiến sĩ Chung cho biết.

Ở góc nhìn dân tộc học, tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, nguyên giảng viên Học viện Quan hệ quốc tế cho rằng, để có một đất nước Hungary như ngày nay, những người dân đã phải trải qua cuộc di dân “thần thánh” suốt 500 năm.

Những người dân đến từ các bình nguyên xa xôi thuộc châu Á đã khẳng định được mình ở mảnh đất trung tâm châu Âu. Nhưng điều đáng lưu ý, trước khi họ đến và trụ lại được ở đây, có nhiều bộ lạc, nhiều tộc người trước họ đã phải đầu hàng, đã bị bị diệt vong trên chính mảnh đất này. “Ngoài sự kiên cường và sức sống mãnh liệt, sự pha trộn giữa hai nền văn minh phương Đông và phương Tây cũng tạo nên những con người Hungary khác thường”, tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng nhận xét.

Nhưng hơn cả, Hungary được ghi nhận là đất nước sớm có nền giáo dục tiên tiến. Ngay từ cuối thế kỷ 19, sau khi đạt được Hòa ước Áo - Hung vào năm 1867, chính phủ Hungary đã lập ra những hội đồng nghiên cứu nền giáo dục của các nước làng giềng tiên tiến như: Đức, Pháp, Áo… để tìm ra chính sách giáo dục tốt nhất cho đất nước mình.

Điều khiến tiến sĩ Giáp Văn Chung đặc biệt chú ý đó là triết lý giáo dục của người Hungary: Phải đào tạo ra những người độc lập trong suy nghĩ. Đến nay, ở Hungary có một mạng lưới liên kết giáo dục giữa các cấp vô cùng mật thiết. Một tài năng được phát hiện ở bậc trung học có thể được gửi thẳng lên các bậc đào tạo cao hơn như đại học, cao học.

Theo Baodatviet.vn

Read the full story

5.2.10

“Thần đồng” họ là ai?

2/05/2010 07:55:00 CH

Tài năng phải được dung dưỡng, động viên, kích thích và thử thách trong hoàn cảnh thích hợp. Nếu không sẽ là lửa rơm “bùng” lên rồi tắt ngóm.

Cậu cả là niềm tự hào của cả nhà tôi về mặt học vấn. Kết thúc lớp 6, (tiểu học), 12 tuổi, không cần học thêm hay luyện thi, cháu thi đỗ vào Trường trung học Fort Street, một trong những trường tuyển nổi tiếng ở Sydney. Sau khi cháu vào trường được vài tháng, một hôm hai bố con trao đổi: “Con học có theo kịp bạn bè?” ” Dạ, cũng kịp”. “Trường có môn gì hay”. “Môn nào cũng hay”. “Con thích nhất môn nào?”.” Kỹ thuật nấu ăn. (“Xào áp chảo, thái hành, làm bánh ngọt…”. Cậu phân trần giải thích thêm.)

Tôi trợn mắt. Mất công vào trường tuyển, tưởng được theo học vật lý nguyên tử, công pháp quốc tế, mổ xẻ giải phẫu y tế…con tôi chỉ thích môn nấu ăn. Công toi. “Nấu ăn thì bố dạy cũng được!” Tôi ức lắm, quay sang bà xã tìm đồng minh để phản biện cái ý thích “kỳ quái” đó. Bà xã thản nhiên: “May mà nó còn thích một thứ nào đó. Đừng có cứng nhắc nắn ép.”

“Thần đồng” là ai?
“Họ có khả năng lập luận, phân tích, đánh giá, và lý thuyết hóa ở mức rất cao. Họ có suy nghĩ mang tính trừu tượng cao. Có khả năng sáng tạo xuất chúng,” Giáo sư Micara Gross, Đại học New South Wales (UNSW) nhận xét chung về những đứa trẻ “thần đồng”. Đó là thế mạnh của chúng. Sở đoản của “thần đồng” là khi ở trường thường bị bè bạn trêu là “đầu to mắt cận”, “cả đẫn”, “ra vẻ ta đây”, và thường là mục tiêu bắt nạt về thân thể cũng như tình cảm.

Theo các chuyên gia thì “thần đồng”, trẻ em với hệ số IQ từ 160 trở lên, thường nói một thứ ngôn ngữ khác chúng bạn, suy nghĩ vượt trên lẽ thường tình và lúc nào cũng cần được kích thích về trí tuệ. Một đứa trẻ 6 tuổi có hệ số thông minh (IQ) là 180, sẽ có đầu óc của đứa trẻ 11 tuổi. Đứa trẻ đó, trong cùng môi trường với trẻ 6 tuổi sẽ rất chóng chán với các hoạt động, trò chơi, bài học cùng các bạn. Tồi tệ nhất là “thần đồng” đó sẽ chỉ chơi bời một mình, cô đơn, và thậm trí thành con mồi cho lũ bạn dốt nát hơn bắt nạt.

Xưa nay có những đồn đoán cho rằng tài năng nảy nở sớm quá thì sẽ chóng tàn, kiểu như Michael Jackson hay các loại sao Hollywood. Nhưng trong nghiên cứu của mình về nhóm các thiếu niên năng khiếu bẩm sinh người Úc, GS Gross chứng minh điều ngược lại. Thiên tài, theo Gross, có thể phát triển lâu dài miễn là được yêu thương, chỉ dẫn và giúp có được lối sống cân bằng gần với đời thường.

Tài năng- hạnh phúc và không hạnh phúc

Có hai mức độ rõ rệt: 3/4 thành công và 1/4 thất bại của học sinh năng khiếu, tài nằng hay “thần đồng” người Úc trong tổng số 60 đối tượng trong công trình nghiên cứu của GS Micara Gross, người gốc Scotland. Nhóm đối tượng này được theo dõi từ thời thơ ấu cho đến khi trưởng thành suốt 23 năm qua.

Phát hiện quan trọng nhất của GS Gross cho thấy 3/4 thành công trong tổng số 60 đối tượng nghiên cứu là thành phẩm của tài năng bẩm sinh cộng với phần đáng kể đóng góp động viên và tin cậy của thầy cô, cha mẹ và người thân, và bè bạn. Khi vào đời, những tài năng đó được đồng nghiệp tin cậy và trọng dụng. Tài năng của họ được kích thích, thử thách và nâng niu ở nhà trường, gia đình và xã hội. Tự các tài năng trẻ này cảm nhận rằng họ “rất sung sướng và hạnh phúc.” (Điều này không liên quan nhiều đến điều kiện vật chất giàu nghèo của bản thân họ.)

Khi lớn lên nhiều người trong số các nhân tài trong nhóm đó đều có bằng tiến sĩ ở các đại học danh tiếng nhất thế giới. Họ làm việc trong các ngành dược, toán, khoa học, luật và kinh tế. Họ được các công ty danh tiếng nhất thế giới săn đón, tuyển dụng.

Còn 1/4 nằm ở đáy của bảng xếp loại là những đứa trẻ bẩm sinh thông minh dĩnh ngộ nhưng không thành công và không hạnh phúc. Vài đứa trẻ trong số đó không hoàn tất được lớp 12, bỏ trường, đi làm sớm ở lò bánh mỳ và công xưởng. Một số chịu ức chế, cô đơn và tuyệt vọng. Nhiều trẻ trong số đó sinh lười, chỉ muốn theo học những ngành học dễ dàng ở bậc đại học, rồi tìm việc theo lối được chăng hay chớ, làng nhàng, trái nghề và tạm bợ với mức thu nhập khiêm tốn.

Nhóm này khi còn bé không học được kỹ năng giao tiếp với bạn bè trong trường, lớn lên, họ không trò chuyện được với đồng nghiệp khi đi làm. Khi cô đơn, những đứa trẻ thông minh đó thường tìm đến các hoạt động thiếu tính giao tiếp như đố chữ, đọc sách, tránh gặp và trò chuyện với bạn bè. Những đứa trẻ thông minh đó đã bị hoặc gia đình hoặc nhà trường hạn chế tài năng dẫn đến việc chúng tự hạn chế khả năng của chúng khi ra đời.

Họ trước hết là những con người

Trong số những đối tượng nghiên cứu của GS Gross, có Terence Tao, giờ đây đã là GS toán học, 34 tuổi. Terence có hệ số IQ vào khoảng 220-230, tương đương với mức của Isaac Newton hoặc Albert Einstein, nhưng đồng thời cũng có một khiếu hài hước rất đời thường. Đọc sơ học bạ của Terence ta thấy cậu bé Terence từ 2 tuổi đã bắt đầu biết đọc sách, năm 8 tuổi đã làm bài tập vật lý lớp 11 và toán lớp 12. Năm 9 tuổi, cậu dành một phần ba thời gian riêng của mình học toán ở Đại học Flinders. Năm 24 tuổi, Terence là GS Đại học California, Los Angeles (UCLA.)

Điều cần bàn ở đây là vai trò của cha mẹ của Terence. Họ đóng vai trò tạo điều kiện và chỉ đườngchứ không nhào nặn hay hò hét thúc dục. Cha mẹ của Terence, theo GS Gross, là những người hiền lành, nồng ấm hiếu khách. Ngoài toán và vật lý, Terence được học đàn piano nhưng “vật lộn” với môn tập làm văn. Thể thao đối với cậu là chút ít bóng bàn và cầu lông.

Terence tự nhận xét những bước phát triển trí tuệ thần tốc của cậu là nhờ được thầy cô và cho mẹ sắp đặt đúng lúc, đúng chỗ. Cậu ít khi bị hối thúc phải ganh đua hay chứng minh bằng mọi giá,hay “đạp bằng” khó khăn, hay vươn quá cao tới một điều gì quá khó. Có những bậc cha mẹ bắt con mình đến tuổi đó phải đạt được mức học đó, phải đạt được bằng đại học x, y, khi lứa tuổi quá trẻ, như vậy thiếu hợp lý, Terence giải thích.

Ngược lại, cũng theo Terence, có những thần đồng thông minh đang muốn tiến bước thật nhanh trong ngành toán thì bỗng dưng nhà trường cắt bỏ chương trình toán nâng cao, khiến chúng cụt hứng chán chường.

Simon Tedeschi là tài năng piano xuất chúng được GS Micara Gross nghiên cứu. Năm 9 tuổi, cậu đã ở Nhà hát Opera Sydney. Năm 14 tuổi cậu đi biểu diễn vòng quanh thế giới, trong số khán giả của cậu có giọng ca vàng đứng biểu diễn piano (vì nếu ngồi thì không với vào hai đầu bàn phím được người Ý Pavarotti. Cậu đoạt giải cao trong trong nhiều cuộc thi. Thời đi học, Simon Tedeschi học đều tất cả các môn, nhưng dành nhiều thời gian cho piano.

Cậu thường kể rằng người lớn hay khuyên là có tài thì đừng có “phổng mũi” ngạo mạn, nhưng thực ra quan sát kỹ thì thấy, những kẻ ngạo mạn thường ở trong số người lớn.

Em trai của Simon hay nhăn mũi, cù nách và trêu Simon mỗi khi cậu đi biểu diễn về nhà; còn mẹ thì giao việc: “Ok, con nổi tiếng rồi đó, bây giờ mang túi rác này ra vứt ra thùng rác nhé!” Tình thương và sự nhắc nhở trêu đùa vui vui của người thân đưa Simon về lại đời thường sau những ánh đèn sân khấu, những tràng pháo tay, những bông hoa, những tiệc cocktail và những lời mượt mà từ các quan chức và celebrity son phấn. Sự cân bằng trong cuộc sống như vậy đã nuôi dưỡng được tài năng của Simon, cậu đã tự nhận thấy như vậy.

Hiện tượng Michael Jackson (Mỹ)

Khi ca sĩ vĩ đại Michael Jackson đột ngột từ trần, phân tích nhiều góc độ của cuộc đời ông, theo GS Gross, bi kịch của Michael Jackson nằm ở chỗ anh đã không có tuổi thơ. Jackson bắt đầu biểu diễn từ năm lên 6, được ngợi ca trong Tạp chí âm nhạc Rolling Stone năm 11 tuổi. Năm 24 tuổi, anh tạoThriller, được biết như một cuộc cách mạng trong âm nhạc và sản xuất video. Nhưng rồi tai họa xuất hiện. Michael tố cáo anh bị người cha tàn độc hành hạ về thể xác cũng như tinh thần, tuổi thơ của anh bị buộc vào những buổi tập và những lần trình diễn. Rồi khi trưởng thành, thế giới của Michael Jackson chỉ là những gì phù du, những con người thực dụng, là tiền, là ảo vọng.

Việc lột rồi thay da mặt, thay đổi hình thức của bản thân cho thấy nỗi đau nội tâm của thiên tài âm nhạc đó. Những cáo buộc tàn độc về ấu dâm, những vụ ra toà kéo dài rồi sự lệ thuộc bệnh hoạn vào thuốc kháng sinh, sự cô đơn triền miền trong toà lâu đài vàng bạc… Dẫu có những thành công trên sàn diễn, Mike Jackson vẫn để lại ấn tượng là một con người bất hạnh, kết thúc cuộc đời ở lứa tuổi 50.

GS Gross rút ra một điều: Năng khiếu của trẻ năng khiếu, tài năng phải được dung dưỡng, động viên, kích thích và thử thách trong hoàn cảnh thích hợp. Nếu không sẽ là lửa rơm “bùng” lên rồi tắt ngóm.

*Thành lập năm 1849, Fort Street, (http://www.fortstreet.nsw.edu.au/) ở Sydney là Trường tuyển trung học (selective high school) lâu đời nhất của nước Úc. Học sinh của trường đến từ khắp Sydney. Trong số 930 học sinh có 600 có nguồn gốc sắc tộc không có bản ngữ tiếng Anh. Fort Street mỗi năm có số lượng học sinh đỗ đại học rất cao, được biết có thế mạnh về nghị luận, luật, báo chí, xã hội học, âm nhạc và nghệ thuật.


(Bài có dùng tư liệu trong bài báo Beautiful Mind của Janet Hawley, tạp chí Good Weekend 19.09.09)


Bảng so sánh cấp độ thông minh của học trò






































Cấp độ thông minhChỉ số IQChiếm tỷ lệ trong số học trò
Năng khiếu sơ đẳng115-1291:6 đến 1:40
Năng khiếu trung bình130-1441:40 đến 1: 1000
Năng khiếu mức cao145-1591:1000 đến 1: 10000
Ngoại hạng160-1791:10000 đến 1: 1 triệu
Thần đồng180 trở lên1: trên 1 triệu
Source: Tuanvietnamnet

Read the full story

Nữ sinh Singapore đầu tiên giành giải thưởng toán học lớn của Mỹ

2/05/2010 06:05:00 CH

Cô sinh viên Charmaine Sia, 23 tuổi vừa trở thành người Singapore đầu tiên giành được giải thưởng toán Alice T. Schafer - giải thưởng uy tín của Mỹ dành cho những sinh viên nữ đạt thành tích xuất sắc trong lĩnh vực toán học.
Chỉ vài tháng nữa, Charmaine Sia sẽ tốt nghiệp Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) ở Massachusetts, Mỹ với tấm bằng cử nhân chuyên ngành toán học và vật lý.

Charmaine Sia. (Ảnh: The Straits Times)

Cùng đạt giải thưởng Alice T. Schafer năm nay với Charmaine Sia là Hannah Alpert, nữ sinh của Trường đại học Chicago.

Alice T. Schafer Mathematics Prize là giải thưởng được trao hàng năm do Hiệp hội nữ giới trong lĩnh vực toán học (Association for Women in Mathematics), một tổ chức phi lợi nhuận tổ chức. Giải thưởng này nhằm khuyến khích nữ giới nghiên cứu và theo đuổi sự nghiệp trong khoa học toán học.

Giải thưởng được đặt theo tên của một nhà sáng lập nên hiệp hội và có giá trị tiền thưởng khoảng 1.000 USD. Những cá nhân được trao giải thưởng phải là người có thành tích xuất sắc trong những chương trình toán học cao cấp và trong các cuộc thi. Ngoài ra, họ còn phải thể hiện sự yêu thích thực sự đối với lĩnh vực này và có các dự án toán học độc lập.

Trả lời phỏng vấn của báo The Straits Times qua e-mail, Sia cho biết: “Mẹ tôi là một giáo viên dạy toán vì vậy tôi đã được tiếp xúc với toán học từ khi còn nhỏ. Chưa có lúc nào tôi ngừng quan tâm và yêu thích lĩnh vực này”.

Mẹ của Sia, cô Sia Wai Leng, cho biết cô con gái của mình được sinh ra với tình yêu dành cho toán học.

Khi mới 5 tuổi, Sia đã giải được những bài toán dành cho học sinh bậc tiểu học. Sia cũng tham gia cuộc thi Olympic toán học cấp quốc gia và cuộc thi Olympic Toán học quốc tế (IMO). Tại cuộc thi này, Sia giành được ba huy chương đồng.

“Chúng tôi chỉ tạo môi trường cho Sia theo đuổi niềm đam mê của nó, như đưa con tới các buổi huấn luyện cho kì thi Olympic. Còn lại, Sia đều tự học một mình”, bà Wai Leng kể.

Mẹ Sia cũng cho biết Sia rất ghét kể lể về những thành tích mà cô đạt được. Thậm chí Sia còn nói rằng cô không chắc mình có xứng đáng với giải thưởng được nhận hay không.

Các thầy giáo hướng dẫn của Sia tại Học viện MIT và Trường đại học Williams nơi cô hoàn thành một nghiên cứu cho biết Sia là một sinh viên “đáng ngạc nhiên”, là người “hấp thụ toán học như một miếng bọt biển”. Các thầy cũng khẳng định Sia là một “nhà toán học đạt độ chín” và có tiềm năng trở thành một nhà nghiên cứu toán học hàng đầu.

Nghiên cứu là mục tiêu mà Sia đang theo đuổi. Sia đã chọn học viện MIT vì ở đó có chương trình đào tạo toán học chuyên sâu. Cô cũng đã từ chối nhận học bổng tại Singapore vì lo ngại điều đó có thể hạn chế việc lựa chọn sự nghiệp của mình.

Tuy nhiên, toán học không phải là sở trường duy nhất của Sia. Cô sinh viên này còn đạt được kết quả xuất sắc trong môn kinh tế. Ngoài ra, Sia cũng thích nghiên cứu và học tiếng Nga. Trong thời gian rảnh rỗi, Sia còn sáng tác thơ và những câu chuyện nhỏ.

Theo The Straits Times (Dân trí)

Read the full story

10 câu nói bất hủ của Bill Gates

2/05/2010 12:15:00 SA

“Mọi người nghĩ rằng yếu tố quan trọng đối với cây là quả, nhưng thực tế yếu tố quan trọng của cây là hạt giống” (F. W. Nietzsche)

Trước khi về hưu vào đầu tháng 7 năm nay, Bill Gates - ông chủ của tập đoàn máy tính lớn nhất thế giới Microsoft - đã đưa ra 10 lời khuyên dành cho các bạn thanh niên trên con đường lập nghiệp.

Vnmath xin giới thiệu và mời các bạn tham khảo những lời khuyên bổ ích của người đàn ông giàu nhất thế giới này, có thể một ngày nào đó bạn cũng sẽ trở thành một Bill Gates thứ hai?

1. Thế giới vốn không công bằng. Bạn biết điều này chứ? Dù bạn có nhận thấy sự bất công trong xã hội hay không thì cũng đừng hy vọng làm thay đổi được nó. Việc cần làm là hãy thích nghi với nó.


2. Mọi người sẽ không bao giờ ngó ngàng đến lòng tự trọng của bạn, điều mà họ quan tâm chính là thành tựu mà bạn đạt được. Do đó, trước khi có được những thành tựu thì bạn đừng nên quá chú trọng hay cường điệu lòng tự trọng của bản thân mình lên.


3. Thường thì bạn sẽ không thể trở thành CEO nếu chỉ mới tốt nghiệp trung học. Nhưng khi bạn đã trở thành một CEO thì không còn ai để ý là bạn mới chỉ có tốt nghiệp trung học nữa.


4. Khi bạn gặp khó khăn hay bế tắc trong công việc thì đừng có oán trách số phận. Điều bạn học được khi gặp trắc trở chính là kinh nghiệm và bài học để lần sau không bao giờ mắc phải nữa.


5. Nên hiểu một điều rằng: Trước khi có bạn, bố mẹ bạn không phải là những người “chán ngắt, vô vị” như bạn của ngày hôm nay đã nghĩ. Đây chính là cái giá rất lớn mà bố mẹ đã phải trả cho sự trưởng thành của bạn.


6. Khi đi học, bạn đứng thứ mấy trong lớp cũng không phải là vấn đề quan trọng. Nhưng khi đã bước chân ra xã hội thì mọi việc lại không đơn giản như vậy. Dù đi đâu hay làm công việc gì bạn cũng nên tạo đẳng cấp cho mình.


7. Khi đi học, bạn luôn mong chờ đến ngày nghỉ lễ, Tết. Khi đi làm thì hoàn toàn không giống vậy, dường như là bạn sẽ không được nghỉ ngơi. Công việc sẽ cuốn bạn đi bất cứ lúc nào kể cả ngày nghỉ.


8. Khi ngồi trên ghế nhà trường, lúc gặp khó khăn trong học tập thì có giáo viên giúp đỡ bạn. Tuy nhiên, nếu lúc đó bạn lại cảm thấy mọi khó khăn đều do những yêu cầu quá nghiêm khắc từ phía giáo viên thì bạn đừng nên đi làm sau khi tốt nghiệp. Đơn giản nếu như không có những yêu cầu nghiêm khắc từ phía công ty thì chắc chắn bạn sẽ không làm được gì và sẽ nhanh chóng thất nghiệp, hơn nữa lúc này sẽ không có ai giúp đỡ bạn cả.

9. Mọi người đều thích xem phim truyền hình, nhưng bạn không nên xem nhiều vì đó không phải là cuộc sống của bạn. Vì công việc ở công ty mới phản ánh cuộc sống thực của bạn.

10. Không bao giờ phê bình người khác sau lưng của họ, đặc biệt đừng bao giờ phê phán sếp là người không có năng lực, điều này là không đúng.


Theo VNN

Read the full story

4.2.10

Làm thế nào để biết một ngày bất kì rơi vào thứ mấy? Sinh nhật của bạn chẳng hạn

2/04/2010 02:03:00 SA

Hãy cho tôi biết ngày sinh của bạn, tôi sẽ cho biết bạn sinh vào thứ mấy.

Lấy một ngày trong quá khứ hoặc tương lai bạn có thể cho biết ngày đó rơi vào thứ mấy?
Nhiều bạn sẽ nói xem lịch thì biết. Nhưng thật khó để kiếm một cuốn lịch năm 1888 hay 2202.
Vnmath.com xin giới thiệu một công thức giúp bạn xác định nhanh thứ mấy mà không cần xem lịch?

W = Y+[(Y-1)/4]-[(Y-1)/100]+[(Y-1)/400]+D

TRONG ĐÓ

  • Y là năm dương lịch, chẳng hạn 2010.
  • D là số ngày kể từ ngày đầu tiên của năm đến ngày cần tính (kể cả ngày đó).
  • [A]: là phần nguyên của A, ví dụ [333,2]=333.

Sau đó tìm số dư của phép chia W chia cho 7. Dư 1 là chủ nhật, dư 2 là thứ 2, dư 3 là thứ 3,..., dư 7 (dư 0) là thứ 7.

Tiếp theo ta thử xem ngày 14/01/1984 là thứ mấy nhé. Ta có Y=1984 và D=14. Do đó

W = 1984+[(1984-1)/4]-[(1984-1)/100]+[(1984-1)/400]+14

= 1984+[495.75]-[19.83]+[4.9575]+14

= 1984+495-19+4+14

= 2478.

W chia 7 dư 0.

Vậy ngày 14/01/1984 rơi vào thứ 7.

Khi tính số ngày đã qua của năm (D) cần lưu ý tới số ngày của từng tháng và xem năm đó có phải là năm nhuận không.

Bây giờ bạn có thể dùng công thức trên để xem sinh nhật của mình rơi vào thứ mấy?



Read the full story